13/01/2013

TÌM HIỂU VỀ THƠ LỤC BÁT


Phần A
TÌM HIỂU VỀ THƠ LỤC BÁT

Giới thiệu mở đầu.

Thơ lục bát là thơ của Việt Nam, giống như thơ Đường luật của Trung Quốc, thơ Hai Ku của Nhật Bản và nhiều thể thơ khác của các dân tộc trên thế giới. Thơ lục bát thân thiết với tất cả mọi tầng lớp người Việt, sâu lắng và tinh tế trong biểu đạt mọi trạng thái tư tưởng, tình cảm. Thơ lục bát nảy nở rực rỡ trong tục ngữ, ca dao, hò vè các làn điệu dân ca nối dài từ đời này qua đời khác để rồi tồn tại mãi mãi.
  Thơ lục bát là thơ của một dân tộc, không lai tạo bởi bất kỳ một thể thơ ngoại lai nào khác. Thơ dịu dàng và tha thiết giống như tích cách của con người Việt Nam ta vậy. Thơ dễ làm, dễ thuộc và ai cũng có thể làm được cho dù là người biết chữ hay không biết chữ. Một bài thơ lục bát có thể dài đến vô cùng nhưng lại có thể ngắn đến chỉ là một cặp câu với mười bốn chữ nhưng vẫn hội tụ đủ nội dung và nghệ thuật của một bài thơ.

I. Những yếu tố chính của thơ lục bát
I.1. Luật thơ lục bát
I.1.1. Khái niệm về luật thơ lục bát
Thơ lục bát được hình thành trước hết là bởi các nhóm  với sáu từ làm thành câu lục và tám từ làm thành câu bát. Các nhóm từ này được ghép lại với nhau theo một quy tắc gọi là luật của thơ lục bát. Luật thơ lục bát bao gồm toàn bộ các quy định về hiệp vần và sắp xếp từ ngữ, âm thanh trong các câu thơ. Luật thơ lục bát được tóm tắt về sự sắp xếp từ ngữ trong câu lục theo thứ tự: Bằng, bằng, trắc trắc, bằng, bằng. Đối với câu bát các từ được xếp theo thứ tự: Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng, trắc bằng.

I.1.2. Sơ đồ cơ bản của luật thơ lục bát
  Qua rất nhiều nghiên cứu của các thế hệ người Việt về thơ lục bát, chúng ta đã có nhiều phiên bản về luật thơ lục bát qua các thời kỳ. Trong bài tìm hiểu này xin giới thiệu một phiên bản có khá nhiều người tán đồng. Nếu ta gọi B là bằng và T là trắc ta có sơ đồ luật thơ lục bát dưới đây

Vị trí
1
2
3
4
5
6
7
8
Câu lục
B
B
T
T
B
B


Câu bát
B
B
T
T
B
B
T
B

I.1.3. Giản lược về luật thơ lục bát
Nếu mỗi câu thơ lục bát giữ đúng âm thanh bằng và trắc đúng như sơ đồ thì rất tốt. Tuy nhiên nếu áp dụng một cách máy móc quá thường cũng khó tránh khỏi sự gượng ép trong câu chữ và nội dung thơ. Người xưa đã nghiên cứu các vị trí âm thanh trên sơ đồ và thấy rằng chỉ cần giữ đúng một số vị trí thì bài thơ vẫn đúng luật. Cũng giống như công thức giản lược trong thơ Đường luật: “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”. Nghĩa là chỉ cần các vị trí 2,4,6 giữ đúng âm thanh bằng trắc là được, các vị trí 1,3,5 có thể tùy ý sắp xếp bằng trắc tùy tý tác giả. Dưới đây là sơ đồ luật thơ lục bát giản lược.

Vị trí
1
2
3
4
5
6
7
8
Câu lục
-
B
-
T
-
B


Câu bát
-
B
-
T
-
B
T
B

I.2. Vần của thơ lục bát
I.2.1. Khái niệm về vần
I.2.1a Vần giữa các từ         
Lâu nay ta luôn nói từ này vần với từ kia, câu này vần với câu kia, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vần qua một số ví dụ dưới đây.
Trước hết ta nhận thấy các từ có thể khác nhau phần phụ âm đầu nhưng phần nguyên âm ghép với phụ âm cuối của nhiều từ thường rất giống nhau. Những từ có phần sau giống nhau khi đọc nên âm thanh phát ra cũng khá giống nhau, từ đó cho ta khái niệm từ này vần với từ kia vậy.

Ví dụ: Ta có 2 từ quân và ngân         
Hai từ quân và ngân đều có nguyên âm (â) ghép với phụ âm (n) ở cuối thành (Ân), hoàn toàn giống nhau. Thế có nghĩa là quân vần với ngân

I.2.1b Vần đúng và gần đúng (vần chính và phụ)
+ Vần đúng (vần chính)
Vần đúng là những vần có nguyên âm và phụ âm ghép sau nó giống hệt nhau chỉ khác bởi các dấu của chúng, như vần (Ân) trong ví dụ trên.
+ Vần gần đúng (vần phụ)
Ngoài các cặp từ có vần đúng còn có khá nhiều cặp từ có vần gần đúng, các cặp từ này có nguyên âm giống nhau nhưng ghép với phụ âm cuối khác.
Ví dụ:  Ta có 2 từ ngân và ngâm       
Ân và âm chỉ hơi giống nhau nên gọi là vần gần đúng

I.2.1c. Vần giữa các nhóm từ.
Trước hết chúng ta thống nhất với nhau hãy bỏ qua vấn đề văn phạm mà chỉ coi các ví dụ lấy từ đồng dao dưới đây là các nhóm từ để khảo sát.

Ví dụ:  Ta có các nhóm từ sau:
Ăn vóc, học hay
Dung giăng dung giẻ, dắt trẻ đi chơi...
Thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà...
Các ví dụ trên cho thấy các nhóm từ đều có các từ vần với nhau, khi thì chúng đứng cạnh nhau như nhóm từ (Ăn vóc) và (học hay) vần bởi từ (vóc) và (học). Khi thì ở vị trí cuối nhóm trước, cách một từ của nhóm sau như nhóm từ (Dung giăng dung giẻ) và (dắt trẻ đi chơi) vần bởi từ (giẻ) và (trẻ). Khi thì ở vị trí cuối nhóm trước với vị trí cuối của nhóm sau như nhóm từ (Thả đỉa ba ba) và (chớ bắt đàn bà) vần bởi từ (ba) và (bà) vv... Những nhận xét trên cho thấy các nhóm từ vần với nhau thì đều phải có các từ vần với nhau và đứng ở một vị trí nào đó trong các nhóm từ
Nếu ta coi câu lục, câu bát là hai nhóm từ và chúng vần với nhau thì nhất thiết trong chúng phải có các từ vần với nhau. Điều cần thiết là chúng ta phải tìm ra các từ của câu lục vần với câu bát như thế nào và vị trí của nó sắp xếp ra sao.

I.2.2. Vần của một cặp câu lục bát
I.2.2a. Ví dụ về vần của một cặp câu lục bát
Thơ lục bát có cấu trúc trước hết là một cặp hai câu thơ liền nhau, câu trên 6 từ, câu dưới 8 từ. Cặp câu này vần với nhau theo một quy luật cụ thể.

Ví dụ 1:
Câu thơ lục bát đâu rồi
Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi tìm

Ví dụ 2:
Trời đất rộng, núi non cao
Tự do tự tại lẽ nào chẳng vui
Trong ví dụ 1, từ (rồi) cuối câu lục vần với từ (thôi) ở vị trí thứ 6 câu bát. Trong ví dụ 2, từ (cao) ở cuối câu lục vần với từ (nào) ở vị trí thứ 6 câu bát. Đây chính là sự hiệp vần giữa 1 câu lục với 1 câu bát lập thành 1 cặp câu lục bát. Sự kết nối trên chính là sự kết nối về vần trong thơ lục bát.
I.2.2b. Sơ đồ vần trong một cặp câu lục bát

Vị trí
1
2
3
4
5
6
7
8
Câu lục
B
B
T
T
B
B


Câu bát
B
B
T
T
B
B
T
B
Vần





V



I.2.3. Vần của hai cặp câu lục bát liền nhau
Những bài thơ lục bát thường có nhiều cặp câu lục bát hợp lại. Sự kết nối của các cặp câu lục bát thông qua hiệp vần giữa chúng với nhau chính là cơ sở hình thành bài thơ lục bát.

I.2.3a. Ví dụ về vần giữa các cặp câu lục bát
Ví dụ:
Nơi đâu mình đã xé rào
Giấu cha, giấu mẹ để vào vườn sau
Nơi đâu mình đứng cùng nhau
Trên môi còn nụ hôn đầu đắm say

Trên đây là 2 cặp câu lục bát liền kề nhau với từ cuối câu bát (sau) của cặp trước vần với từ cuối (nhau) câu lục  của cặp sau.

Kết luận
Thơ lục bát là tập hợp nhiều cặp câu lục bát vần với nhau theo một cách thức duy nhất đó là từ cuối của câu bát cặp câu lục bát đứng trước vần với từ cuối của câu lục cặp câu lục bát đứng sau.

I.2.3b. Sơ đồ vần của 2 cặp câu lục bát liền nhau

Vị trí
1
2
3
4
5
6
7
8
Câu lục 1
B
B
T
T
B
B


Câu bát 1
B
B
T
T
B
B
T
B/v
Câu lục 2
B
B
T
T
B
B/v


Câu bát 2
B
B
T
T
B
B
T
B

I.3. Các loại vần trong thơ lục bát
Vần trong thơ lục bát được đặt tên theo nhiều cách, như dựa vào vị trí của vần trong câu, dựa vào thanh âm, thậm chí vần còn có tên mô phỏng theo thân thể con người.
I.3.1 Vần đặt tên theo vị trí
Mỗi từ trong câu được xếp theo thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Từ đó cho thấy vần ở vị trí thứ mấy thì gọi tên theo thứ tự đó. Người ta cũng gọi vần ở các khoảng đầu, giữa, cuối của câu thơ, từ đó ta có vần đầu, vần giữa, vần cuối

Ví dụ:
Câu thơ lục bát đâu rồi
Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi tìm
Ví dụ trên từ (rồi) ở vị trí thứ 6 và cũng là vị trí cuối của câu lục, vần với từ (thôi) nhưng lại ở vị trí thứ 6 trong câu bát.

I.3.2. Vần đặt tên mô phỏng theo thân người
Với cách viết của chữ nho xưa theo hàng dọc, từ đó những chữ trên cùng là đầu, chữa ở giữa là lưng và dưới cùng là chân, giống như thân người đứng thẳng. Chính từ đây ta có vần lưng, vần chân. (người xưa gọi là vần lưng là yêu vận và vần chân là cước vận)
 
Ví dụ:
Tưởng rằng đáy bể mò kim
Ở ngay  trước mắt còn tìm lạ chưa
Trong ví dụ trên (kim) là vần chân, (tìm) là vần lưng

I.3.3. Vần đặt tên theo thanh âm
I.3.3a Vần bằng
Các từ có thanh huyền và thanh không nằm trong cấu trúc vần thì đều là vần bằng.
Ví dụ:
Nghe câu ru giữa đêm mưa
“Con cò lặn lội” còn chưa giấc tròn
Tiếng ai tha thiết bồn chồn
Mấy mươi năm tưởng lối mòn đã quen

Ví dụ trên (mưa) và (chưa) là những vần bằng thanh không, (chồn) và (mòn) là những vần bằng thanh huyền  
                                                                         
I.3.3b. Vần trắc
Các từ có thanh sắc, nặng, hỏi, ngã nằm trong cấu trúc vần thì đều là vần trắc.

Ví dụ 1:
Bao đêm em ngồi trên bến
Em chờ anh đến suốt cả năm canh

Ví dụ 2:
Suốt đêm ngồi bên ngọn nến
Em chờ, em đợi anh đến thăm em

Ví dụ 3:
Bên sông trăng soi vằng vặc
Người về bỏ mặc ai đứng bên sông

Ví dụ 4:
Đường xa người đi đã mỏi
Dừng chân nghỉ lại để hỏi thăm đường
Ví dụ 5:
Chớ tin sắc màu rực rỡ
Để rồi bỏ lỡ hạnh phúc ngày mai
Với các ví dụ trên đây các từ in đậm đều là những vần trắc với các thanh sắc, nặng, hỏi, ngã

II. Thanh âm và nhịp điệu của thơ lục bát
II.1. Sử dụng thanh âm trong thơ lục bát
  Tất cả các từ trong thơ lục bát đều là những thanh âm nằm trong cấu tạo của ngôn ngữ tiếng Việt. Thanh âm được hình thành bởi những chữ cùng với dấu của nó (có cả trường hợp không dấu). Có đến 6 thanh âm khác nhau, trong đó thanh không, thanh huyền thuộc thanh bằng. Các thanh còn lại như thanh sắc, hỏi, ngã, nặng đều thuộc thanh trắc. Mỗi thanh đều có một cấp độ cao thấp khác nhau nên khi ta đọc lên ta thấy hình như đó là những giai điệu trong các bài hát. Bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ và khơi dậy những xúc cảm dịu dàng hoặc bi tráng. Hiểu rõ điều này chính là cơ sở cho việc tiếp cận với thơ lục bát thuận lợi hơn, bởi luật thơ lục bát chính là sự sắp xếp thanh âm ở các vị trí trong các câu thơ

II.2. Tránh khổ độc
Như trên đã nói trong hệ thống tiếng Việt của ta có 6 thanh khác nhau căn cứ bởi các dấu, trong đó gồm:
Thanh huyền; thanh không dấu; thanh sắc, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã. Đừng nghĩ rằng cứ là bằng thì (không) hay (huyền) cũng vậy. Nếu sắp xếp không khéo thì câu thơ đọc lên rất ngang, xưa gọi là khổ độc, để tránh điều này ta cần chú ý các trường hợp sau:
Vị trí thứ 6 và thứ 8 cùng bằng nhưng không được xếp cùng thanh không hoặc cùng thanh huyền.

II.3. Ngắt nhịp trong thơ lục bát

Thơ lục bát dùng nhịp điệu khá thoáng kể cả câu lục và câu bát. Ngoài những yếu tố bắt buộc phải có tiểu đối như ở câu lục thì nhịp điệu của cả câu lục và câu bát đều có các nhịp xen kẽ với nhau tùy theo ý thơ. Dưới đây là một số ví dụ về nhịp điệu trong thơ lục bát.

II.3.1. Ngắt nhịp 2 của câu lục và câu bát

Thơ lục bát có 2 nhịp cân bằng thường có dạng đối chọi giữa 2 vế. Đó cũng chính là cấu trúc tiểu đối khá phổ biến ở cả lục bát chính thể và lục bát biến thể. Ngắt nhịp theo phương pháp này mang tính so sánh để làm nổi bật nội dung mà người viết xét thấy cần thiết. Ví dụ dưới đây có cấu trúc 2 nhịp với 3 từ trước và 3 từ sau ở câu lục và 4 từ trước, 4 từ sau ở câu bát.

Ví dụ:
Làn thu thuỷ / nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm  / liễu hờn kém xanh
                                                    Truyện Kiều - Nguyễn Du

Nhip 2 không đều cũng xuất hiện nhiều không kém với các cấu trúc 2/ 4.
             
Ví dụ:
Khát đời / khát một vùng quê
Mà không còn dịp được về tận nơi
                                             Người về thôn Vỹ - Trọng Hồng

II.3.2. Ngắt nhịp 3 của câu lục
  Các trường hợp có 3 nhịp đều nhau với cấu trúc 2/ 2/ 2 ở câu lục của cả thơ cũng như ca dao, tục ngữ cũng khá quen thuộc.

Ví dụ:
Sớm tìm / phận đẹp / duyên ưa
Để em quên nỗi niềm xưa với người.
                                                  Lục bát trong mơ - Trọng Hồng

Ngoài ra càng không thiếu loại 3 nhịp không đều trong câu bát, đấy là những cấu trúc 2/ 2/ 4. Hoặc cấu trúc 4/ 2/ 2 trong câu.

Ví dụ:
Ru con con ngủ cho muồi
Nước non chưa gánh / mẹ ngồi / mẹ ru
                                              Tục ngữ ca dao Việt Nam
 
II.3.3. Ngắt nhịp 4 của câu bát

Trong câu bát có thể có đến 4 nhịp, mỗi nhịp 2 từ với kết cấu 2/ 2/ 2/ 2 như ví dụ dưới đây.
             
Ví dụ:
Nhớ khi ngồi gốc cây hồng
Biết đâu / có lúc / lạnh lùng / gốc đa
                                                Lục bát trong mơ - Trọng Hồng

III. Thơ lục bát phá luật

III.1. Khái niệm về thơ lục bát phá luật
Các phần tìm hiểu trên đã nói khá kỹ về luật thơ luc bát. Đây cũng chính là luật dùng cho thơ lục bát chính thể. Cứ như luật trên thì khá nhiều những ý thơ và từ ngữ cần có trong thơ lại không đáp ứng được, nhất là tên địa phương, tên người và nhiều cử chỉ khác trong hành văn cứ phải dùng từ thứ 2 là thanh trắc và từ thứ tư là thanh bằng. Đặc biệt là từ cuối câu lục trong luật là vần và lại phải là thanh bằng nay bỗng nhiên phải đổi thành vần trắc. Đó chính là nguyên nhân sự xuất hiện thơ lục bát phá luật.

III.2. Những dạng thơ lục bát phá luật
III.2.1. Lục bát phá luật bởi vần trắc
Có rất nhiều các bài thơ lục bát dùng vần trắc, đây chính là dạng phá luật bới từ thứ 6 theo luật phải là vần bằng nay lại là trắc

Ví dụ:
Suốt đêm ngồi bên ngọn nến
Em chờ, em đợi anh đến thăm em

Ví dụ:
Đường xa người đi đã mỏi
Dừng chân nghỉ lại để hỏi thăm đường
Các vần (nến) và (mỏi) chính là các vần trắc. Điều đó khảng định đây là dạng: Phá luật vần trắc

III.2.2. Lục bát phá luật nhị trắc
Dạng phá luật thường xuất hiện đó là từ thứ 2 của câu lục từ bằng giờ đây là trắc
Ví dụ:

Trời đất rộng, núi non cao
Tự do tự tại lẽ nào chẳng vui
Toàn bộ câu thơ lục bát trên nếu đối chiêu với Lục bát giản lược thì duy nhất chỉ có từ thứ 2 (đất) là yếu tố phá luật. Ta gọi là: Phá luật nhị trắc

III.2.3. Lục bát phá luật tứ bằng nhị trắc
Dạng phá luật thứ 2 xuất hiện đó là từ thứ 2 từ bằng giờ đây là trắc, từ thứ 4 trắc giờ đây là bằng

Ví dụ:
Khi tựa gối khi cúi đầu (truyện Kiều)

Ví dụ:
Khi chén rượu, khi cuộc cờ (truyện Kiều)
Qua ví dụ trên ta thấy vị trí 2 và 4 trong câu thơ đã thay đổi ngược lại. Ta gọi là: Phá luật tứ bằng nhị trắc

III.2.4. Một số nét bàn về phá luật nhị trắc

Rất nhiều người cho rằng đã làm thơ lục bát thì nên cố gắng viết thơ lục bát chính thể. Những bài thơ lục bát phá luật như dạng nhị trắc thường bị chê và ít sử dụng. Tuy nhiên nhiều nhà thơ lớn và nhất là cụ Nguyễn Du thì các câu thơ gọi là phá luật thật là đắc dụng. Nếu thống kê đầy đủ các câu thơ phá luật các dạng của cụ trong Truyện Kiều thấy rằng số lượng quả không nhỏ.
Tuy nhiên mỗi trường hợp dùng từ thứ 2 là thanh trắc thì bao giờ cụ cũng thiết kế câu thơ ở dạng tiểu đối, nghĩa là ngay trong câu thơ ấy đã hình thành 2 vế đối chọi với nhau.

Ví dụ:
Người quốc sắc / kẻ thiên tài
Mai cốt cách/ tuyết tinh thần

Từ câu thơ trên nửa đầu là: người quốc sắc đối với kẻ thiên tài. Hoặc như câu thơ dưới: Mai cốt cách đối với tuyết tinh thần
Dưới đây là một số ví dụ phá luật nhị trắc trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du để mọi người tham khảo.

Người một nơi, hỏi một nơi
Khi gió gác, khi trăng sân
Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi khóe hạnh, khi nét ngài
Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Nền phú hậu, bậc tài danh
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Người nách thước, kẻ tay dao
Đồ tế nhuyễn, của tiêng tây
Duyên hội ngộ, đức cù lao
Tin nhạn vẩn, lá thư bời
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Người yểu điệu, kẻ văn chương
Thêm nến giá, nối hương bình
Tuy nhiên cũng có những câu thơ dùng phá luật nhị trắc nhưng không dùng tiểu đối. Đây là 1 trường hợp câu thơ được áp dụng trong trạng thái tác giả đau đớn đến cùng cực  than cho số kiếp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung...

Một trường hợp hy hữu khác nữa mà Nguyễn Du đã viết đó là lời mắng mỏ đến gay gắt của Hoạn thư trước người hầu Hoa nô Thúy Kiều. Câu thơ như bóc trần thói kệch cỡm kẻ cả trong thủ đoạn hại người do họ Hoạn đã bày ra.

Sao chẳng biết ý tứ gì
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi...

Những gì mà mọi người thấy được là việc vận dụng thơ lục bát chính thể hay thơ lục bát phá luật đều nằm trong tầm tay người viết. Đừng câu chấp điều gì để thơ hay đến được với mọi người.

IV. Thơ lục bát biến thể
IV.1. Khái niệm về thơ lục bát biến thể
Thơ lục bát biến thể chính là các bài thơ có cách gieo vần và hiệp vần khác với luật thơ lục bát chính thể. Đặc điểm của lục bát biến thể là từ thứ sáu của câu lục hiệp vần với từ thứ 4 của câu bát Thường thường thơ lục bát biến thể hay đi kèm với lục bát phá luật.
IV.2. Lục bát biến thể vần bằng
Thơ lục bát biến thể dùng vần bằng khá phổ biến trong các sáng tác từ trước đến nay với những ví dụ dưới đây.
Ví dụ:
Thanh niên việc xóm xông pha
Phụ nữ việc nhà việc hội giỏi giang
Trong câu thơ lục bát trên từ thứ sáu (pha) của câu lục hiệp vần với từ (nhà) của câu bát. Câu thơ trên cũng đi kèm với dạng phá luật ở câu bát với các từ (nữ và hội) từ bằng thành trắc. Đây chính là dạng thơ lục bát biến thể vần bằng

IV.3. Lục bát biến thể vần trăc
Trong các sáng tác thơ lục bát không hiếm những bài thơ biến thể vần trắc. Nghĩa là vần trắc của câu lục cũng hiệp vần với từ thứ 4 của câu bát

Ví dụ:
Bao đêm em ngồi trên bến
Em chờ anh đến suốt cả năm canh
Trong câu thơ trên từ thứ sáu (bến) của câu lục hiệp vần với từ thứ tư (đến) của câu bát. Câu thơ lục bát trên đây vừa là dạng lục bát biến thể kèm theo phá luật ở cả câu lục và câu bát. Đây chính là dạng thơ lục bát biến thể vần trắc

IV.4. Cứu cánh của lục bát biến thể
Khi làm thơ lục bát ít người để ý đến thế nào là chính thể và thế nào là biến thể. Tuy nhiên với lục bát chính thể câu thơ có vẻ như mềm mại hơn, còn lục bát biến thể có vẻ như rành rẽ hơn và khá thú vị là giúp cho ta trong những cơn vế tắc của sự dàn trải trong thơ. Chính vì vậy mà những người có thể chinh phục được tất cả các dạng thơ này dễ đến được với đỉnh cao của thơ lục bát

V. Điều cần tránh trong làm thơ lục bát
 
V.1. Sử dụng vần hợp lý trong thơ lục bát
Thơ lục bát thường dùng vần bằng, rất ít dùng vần trắc. Những bài thơ lục bát hay nhất thường dùng các vần chính hoặc các vần gần đúng và không rơi vào trạng thái lạc vần. Đặc biệt là không phạm các lỗi trong hiệp vần như các trường hợp dưới đây.

V.2. Sử dụng vần chính

Ví dụ:
Tưởng như mình viết rất nhiều
Thế mà cũng chỉ vài điều thế thôi

Với vần (iêu) trong nhiều và vần (iêu) trong điều của 2 câu trên ta thấy chúng giống hệt như nhau, ta gọi là vần chính. Những người làm thơ lục bát càng gắn bó với vần chính trong thơ thường gặt hái được nhiều thành công nhất

V.3. Sử dụng vần gần đúng (vần phụ)

Ví dụ:
Bỗng đâu nói nói cười cười
Những thương cùng nhớ thế rồi lại đi.
Với vần (ời) trong cười và (ồi) trong rồì chỉ gần giống nhau. Tuy vậy ta cũng vẫn có thể coi  2 câu trên vần với nhau, ta gọi đó là câu có vần gần đúng.

V.4. Nên dùng vần bằng tránh dùng vần trắc
  Về cơ bản thơ lục bát chỉ có vần bằng, nhưng ta cũng gặp khá nhiều bài lục bát vần trắc như đã nói ở trên. Tuy nhiên vần trắc sử dụng nhiều hơn cả là trong ca dao, tục ngữ. Qua tìm hiểu nhiều bài thơ thấy rằng cũng nên dùng vần bằng và tránh dùng vần trắc trong thơ lục bát.

Ví dụ:
Bao đêm em ngồi trên bến
Em chờ anh đến suốt cả năm canh

Nếu có thể thay bằng cặp câu sau thì vẫn đủ ý mà lại không phải dùng vần trắc:
 
Bao đêm trên bến trông ai
Mỏi mong chờ đợi kéo dài năm canh

V.5. Tránh lạc vần
Khá nhiều câu thơ không những không theo vần chính và cũng không dùng vần gần đúng. Các từ ở vị trí gieo vần được thay bằng những từ có vần khác hẳn

Ví dụ 1:
Xa quê từ ấy đã lâu
Lòng ta khao khát những mong trở về

Vần (lâu) cuối câu lục chẳng hề vần với (khát) ở vị trí 4 và (mong) ở vị trí 6 trong câu bát như ví dụ 1; hoặc vần (này) không vần với (sang) trong câu 2 và câu 3 của ví dụ 2.
                         
Ví dụ 2:
Người về bên ấy xa xôi
Mải mê công việc bỏ tôi bên này
Ngày mai tôi sẽ tìm sang
Bắt đò ngược nước để mang người về
Khi đọc những câu thơ như trên ta thấy nó trúc trắc, không liền mạch và khó thuộc, khó gieo sự cảm hứng cho độc giả khi tiếp nhận nội dung nghệ thuật bài thơ.

V.6. Tránh trùng vần

Những câu thơ lạc vần đã cho ta những sản phẩm không êm dịu lắm và rất khó thuộc, nhưng nếu nhiều vần trùng nhau cũng chẳng tốt hơn.                      
             
Ví dụ:
Đã từng lội suối trèo non
Đã từng uống nước ở con sông đào
Đã từng ăn một trái đào
Giữa nơi tiên giới mà nào có hay
Ai ơi, ai hỡi có hay
Cõi tiên thế cũng bằng nay cõi người
Vần (đào) ở câu 2 và câu 3, hoặc vần (hay) câu 4 và câu 5 trên đây cho thấy các câu thơ trùng vần khi đọc lên nghe hơi ngang và gượng gạo.

V.7. Tránh điệp vần

Nhiều bài thơ lục bát tuy không trùng vần giữa 2 cặp câu như trên nhưng chỉ mới cách vài câu lại trùng vần cũng là thiếu sót nên tránh.

V.8. Tránh dùng chung vần trong câu.

Ví dụ:
Thấy người có nét cười tươi
Đoán người chắc chỉ hai mươi tuổi đời

Ngay trong một câu lục hoặc câu bát có khi có đến 3 vần (ươi) giống nhau như (người, cười, tươi) trong câu lục, hoặc như (người, mươi, đời) trong câu bát trên đây. Câu thơ ngang và gượng, khi đọc lên chẳng có nhạc điệu, khiến người đọc quên ngay sau đó.
 
VI. Xướng hoạ thơ lục bát

Thơ lục bát cũng có thể xương hoạ như một số thể thơ khác cùng với những quy tắc riêng, tuy nhiên những bài lục bát xướng hoạ thường ngắn. Ngoài xướng hoạ đôi khi các tác giả còn nối thơ hoặc nhại thơ, trên thực tế đây là những cách hoạ thơ không cần theo đúng quy định mà chỉ cốt tỏ sự thân mật và đồng cảm giữa những người bạn thơ với nhau, dưới đây là một số dạng hoạ thơ lục bát.

VI.1. Những quy định trong hoạ thơ lục bát

Hoạ thơ lục bát trước hết là việc phải bám sát chủ đề bài xướng thể hiện rõ tình cảm của người hoạ với người xướng thơ. Khi đã theo sát chủ đề bài xướng thì cũng nên phân đoạn theo bài xướng. Khi bài hoạ theo một chủ đề khác với bài xướng thì cấu trúc phân, đoạn cũng vẫn nên bám sát. Nếu có thể cũng nên giữ đúng nhịp điệu.

VI.2. Hoạ thơ với 1 vần chân

Hoạ thơ lục bát với 1 vần chân thường là dễ hoạ, lối hoạ này chỉ dùng vần chân của bài xướng để hoạ. Nhất thiết không để 2 bài có sự trùng lặp từ thứ 5 câu lục và từ thứ 7  (từ gạch chân) câu bát.

Ví dụ:
RA ĐI
(Bài xướng)
Nhớ quê tranh thủ về quê
Xa xôi cách trở khó về làm sao
Nhớ xanh dòng nước sông đào
Nhớ vàng con dốc đường vào bến sông
Nhớ chiều mưa nước long bong
Biết bao thương nhớ đợi trông u hoài
Trong mơ rộn ra tiếng cười
Bước chân bin rịn lòng người ra đi

NHỚ QUÊ
 (Bài hoạ)
Nhớ quê ta lại thăm quê
Ra đi cho chán rồi về đó sao (!)
Những năm lửa cháy, bom đào
Bao người ngã xuống máu trào trên sông
Ra đi dứt áo, trắng bong
Cả đời chẳng chút mỏi mong đoái hoài
Bỗng đâu nói nói cười cười
Những thương cùng nhớ thế rồi lại đi.

VI.3. Hoạ thơ với  cả vần  chân và vần lưng

Hoạ thơ lục bát với cả vần chân và vần lưng có hơi khó hơn một chút. Quy tắc hoạ chỉ cần không để 2 bài bị trùng lặp từ thứ 5 của câu lục, từ thứ  5 và thứ 7 (chữ  gạch chân) của câu bát. Dưới đây là bài hoạ với cả vần chân và vần lưng thơ lục bát
             
 HÀNG XÓM
(Bài xướng)
Em là hàng xóm của TÔI
Kể từ cha mẹ hẹn lời đầu XUÂN.
Gặp đâu chỉ có một lần
Thế rồi đồng ý kết THÂN hai NHÀ.
Bên kia trồng một vườn CÀ
Bên này mua một đàn GÀ về NUÔI
Đầu năm mua muối chung đôi
Cuối năm góp vốn mua VÔI sửa NHÀ.

MONG ĐƯỢC CÓ ĐÔI
(Bài hoạ)
Hỏi người có nhớ đến TÔI
Từ khi bén tiếng, trao lời đêm XUÂN
Tìm nhau không biết bao lần
Chỉ mong gặp mặt thành THÂN một NHÀ
Dẫu trong nghèo túng dưa CÀ
Thể nào anh cũng mua GÀ để NUÔI
Chỉ mong mình được có đôi
Ngăn phòng hạnh phúc quét VÔI dọn NHÀ

VI.4. Một số cách hoạ khác

VI.4.1 Hoạ chắp vần.
  Đây là sự vận dụng theo lối đối đáp khi hát giao duyên ở vùng đồng bằng sông Hồng và hò đối đáp ở các vùng ven sông, ven biển miền Thanh Nghệ. Với cách hoạ này người ta có thể sử dụng toàn bộ câu lục hoặc toàn bộ câu bát, các câu còn lại ứng hoạ theo vần. Cách hoạ giống như việc sử dụng chung câu lục của 2 bài dưới đây.

Ví dụ:

GỬI VÀO TRĂNG
Đã quay mấy vạn năm rồi
Vầng trăng vẫn ở trên trời cả năm
Khi trăng khuyết lúc trăng rằm
Trăng khi đầu tháng gọi bằng trăng non
Trăng suông cho dạ bồn chồn
Trăng già gớm giếc héo mòn nỗi riêng
Trăng lu bóng đổ xiên xiên
Trăng xanh vằng vặc còn nguyên giữa trời
Bóng trăng che kín cuộc đời
Bóng trăng tê tái lòng người mỏi mong

GỬI LÊN TRĂNG
Đã quay mấy vạn năm rồi
Còn ta đâu thể ra ngoài trăm năm
Khi trăng khuyết lúc trăng rằm
Xuân xanh em vẫn thưa rằng còn non
Trăng suông cho dạ bồn chồn
Anh chờ em đã héo mòn tình riêng
Trăng lu bóng đổ xiên xiên
Dáng ai vẫn cứ đứng nguyên bên trời
Bóng trăng che kín cuộc đời
Thương ai chung thuỷ vì người chờ mong

VI.4.2. Hoạ nối vần

  Cách hoạ nối vần thường không buộc phải theo đúng vần của bài xướng mà chỉ tạo ra một vần mới, hiệp vần với vần của bài xướng.

              Ví dụ:

Nghe đồn anh giỏi văn chương
Đố anh biết cỏ ven đường mấy cây
Em về hỏi mẹ cùng thầy
Nồi hương bao cát cỏ dầy  bấy nhiêu
                                     
VI.4.3. Hoạ nhại vần

Cách hoạ nhại vần cho phép láy lại vần bài xướng kể cả từ đứng trước vần, tuy nhiên về nội dung thì phải bám sát chặt chẽ và vận ý đối đáp với bài xướng, tựa như một bên hỏi và bên kia trả lời vậy.
 
Ví dụ:

HOA VIẾT CHO HOA
 (Tặng thơ hoa Cúc)

Em như giọt nắng hoa vàng
Rọi trên trang giấy nhẹ nhàng thế thôi
Giá như em đã cùng tôi
Xem chung gương ở cái hồi thanh xuân
Chắc rồi vần đã nối vần
Dắt nhau đi đến trong ngần vườn tiên
Nỗi niềm dù đã rất riêng
Mặc ai rào đón phải kiêng "Hoa hồng"[1]
"Sáu mươi" người có còn không (!)
Để ta mang lá trầu không đến nhà
Cứ mong "Trẻ mãi không già"
Thế rồi đến lúc sẽ là "... Tròn trăm "
Yêu người ta viết lời thăm
Để câu thơ với tháng năm đợi chờ.



HOA VIẾT CHO HOA
(Hoa Cúc nhại vần)

Nhởn nhơ tắm ánh nắng vàng
Hương thơm Cúc chỉ nhẹ nhàng thế thôi
Ngày xưa hoa đã cùng tôi
Cài duyên mái tóc từ hồi hoa xuân
Câu thơ ai chắp mà vần
Ngõ riêng ta đã trong ngần tình riêng
Tuy hoa không nở vườn tiên
Không ngào hương sắc chỉ kiêng “hoa hồng”
Đầy vườn bát ngát những bông
Còn mong chi lá trầu không đến nhà
Vô tư chờ đón tuổi già
Thêm vài chục nữa chắc là lẻ trăm
Quý người ta muốn tới thăm
Ngõ cài then chặt xa xăm biển chờ

Bài nhại chỉ thay vần (bông) vào (không) và vần (xăm) vào (năm) của bài xướng, các vần còn lại đều giống nhau


Phần B
THƠ LỤC BÁT DÙNG LÀM VÍ DỤ


CHỢ TÌNH
(Kỷ niệm SaPa)

Vẫn còn có một chợ tình
Để nguôi đi chuyện của mình ngày xưa
Tháng năm lòng cách, mặt thưa
Có bao điều vẫn còn chưa cất lời
Hương đêm tĩnh lặng, bồi hồi
Nói câu cuối nữa để rồi chia xa.


NGUYÊN CỚ

Vẫn còn có một vần thơ
Để cho ta gửi ước mơ tuổi già
Chỉ yêu một chút thôi mà
Ngờ đâu bà lão ở nhà đánh ghen.


QUA HUẾ NHỚ VỀ THÔN VỸ
(Huế 7/2005)

Mong về thôn Vỹ từ lâu
Mấy ngày thăm Huế sao mau thế này.
Những bông hoa bắp gió lay
Bờ tường cao, lá trúc dày che ngang
Một màu ngọc biếc mênh mang
Chỉ còn có mỗi một hàng cau thôi
Em hoà vào với đất trời
Trắng trong sương khói để rồi tan đi
Người về thôn Vỹ làm chi
Đợi khi trăng mọc, chờ khi trăng về
Khát đời, khát một vùng quê
Mà không còn dịp được về tận nơi
Bẩy mươi năm đã qua rồi
Vần thơ còn đó con người về đâu!


KHẮC KHOẢI KIỀU
(Hồ Tây 5/ 1999)

Mở Kiều nhớ cụ Nguyễn Du
Một cơn m­ưa trắng chiều thu bên hồ
Từng trang giấy cũ lu mờ
Kim, Vân, Kiều tự bao giờ đầy vơi
Hợp tan, tan hợp một đời
Ngày xưa cũng đã thế rồi lạ đâu
Ngẫm lời người viết đã lâu
Vận vào, mọi cái biết đâu vuông tròn
Hỏi rằng mai sự có còn…
Câu thơ tê tái bồn chồn lòng nhau
Những điều người đã đớn đau
Đời còn khắc khoải muôn sau với Kiều.


MƯA XUÂN
(Bến Than 1983)

Dường như trời ấm lại rồi
Nhìn ra cuối bãi cả trời đang mưa
Áo em lấm tấm hạt mưa
Ai đem ngọc dát trên tơ óng vàng
Cỏ xanh phủ kín mặt đường
Bến sông con nước vấn vương tình người
Em vừa rời bến đi rồi
Chỉ còn trước mặt một trời mưa xuân.


XÍCH LÔ ĐÊM HUẾ
(Sông Hương 7/2005)

Vòng xe lăn lóc trên đường
Cầu Tràng Tiền cháy ánh vàng đèn đêm
Mồ hôi từng giọt, giọt thêm
Bắp chân trần cả màn đêm cuộn vào
Bên kia áo tím khăn đào
Bên này quần cộc sắn cao, lưng trần
Ai đi chơi cuộc phù vân
Người đang cặm cụi xoay vần áo cơm.


TÔI CHO EM CẢ CUỘC ĐỜI

Tôi cho em cả cuộc đời
Những là bèo dạt mây trôi muôn trùng
Cho em tất cả não nùng
Cho em tất cả cõi lòng đắng cay
Cho em nước mắt vơi đầy
Xót đau hờn giận những ngày xa xưa
Cho em hết thảy gió mưa
Quãng đời phiêu dạt đẩy đưa hững hờ
Cho em chín đợi mười chờ
Cái danh, cái phận nhạt mờ xa xôi
Dường như em lẫn vào tôi
Để than, để tiếc, để rồi khổ đau.


TIẾC
(Phả Lại 10-2002)

Em về bên ấy làm dâu
Mẹ cha đi đón qua cầu mới xây
Ngày xưa cũng đoạn sông này
Nước sông thì lớn, đò đầy chẳng qua
Mấy lần lỡ hẹn đôi ta
Mấy lần hờn dỗi, rằng là quên nhau
Bây giờ đã có nhịp cầu
Tiếc rằng hai đứa gần nhau mất rồi.

LẠC


Lạc đường hỏi mãi cũng ra
Lạc nhau đành phải để xa một đời
Người ơi ta nói một lời
Gặp nhau rồi chớ để rời nhau ra


TAM CỐC
(Tháng 7 năm 1995)

Đôi bên đá mọc ồn ào
Thuyền theo đồng nước đi vào Cốc Tiên
Dập dềnh sóng vỗ hai bên
Nước nghiêng cho đá nổi trên đất trời
Trần hang chạm sát mặt người
Cõi tiên cùng với cõi đời kề nhau
Cảnh tình ai vẽ trước sau
Đâu tiên, đâu bụt, còn đâu là người
Sau lưng sóng nước bồi hồi
Khoét sâu ngấn đá nói lời thời gian
Qua rồi quãng tối miên man
Cửa thông đã sáng đò nan trả người
Ngước lên, đỉnh núi xanh ngời
Bao la mây trắng, tiếng cười trong veo


CHUYỆN NHỮNG ĐÊM CHÈO

Hội làng mở hết ba đêm
Để cho anh được cùng em vào chèo…
Em thương cái Tấm phận nghèo
Anh giận cái Cám cả liều cướp duyên
Em đau Tiểu Kính oan khiên
Anh buồn Thiện Sỹ ươn hèn vì đâu!
Em chê cô bé Thị Mầu
Lấy tình trăng gió bắc cầu đòi duyên
Trách Dương vì chút bạn hiền
Để Châu Long dưới bóng đèn đầy vơi.
Lẽ đời đâu chỉ thế thì thôi
Những mù, câm, điếc tranh ngồi mâm cao.
Trưởng làng dạy mõ học rao
Biết ai là  kẻ khăn cao, áo dài (?)
Có bao câu chuyện cuộc đời
Có bao nhiêu kiếp con người đớn đau!...
Tích chèo có tự bao lâu
Mà sao vẫn chẳng nhạt mầu tháng năm
Ngày xưa dù đã xa xăm
Câu chèo đêm hội vẫn nằm trong tim.


NHỚ

Em không đi hết chặng đường
Để ai dang dở những thương cùng buồn
Biển xa gió động, sóng cồn
Vệt lân tinh xé cánh chuồn trong đêm.
Dẫu rằng đã cố tình quên
Lạ sao cái nhớ càng thêm, càng nhiều
Lối xưa ai rẽ nửa chiều
Để ai phải nhớ, phải yêu cả đời.


TRỞ LẠI VƯỜN XƯA
(Côn Sơn mùa thu 1984)

Một mình trở lại vườn xưa
Nhớ về kỷ niệm buổi trưa năm nào
Nơi đâu mình đã xé rào
Giấu cha, giấu mẹ để vào vườn sau
Nơi đâu mình đứng cùng nhau
Trên môi còn nụ hôn đầu đắm say
Nơi đâu tay nắm trong tay
Chúng mình hẹn ước mai đây trở về…
Vẫn là trưa nắng mùa hè
Bên vườn còn đó gốc kè đơn côi.


LỤC BÁT TRONG MƠ

Viết câu lục bát xa khơi
Gửi theo mơ đến với ng­ười còn không
Ai kia vẫn chửa lấy chồng
Để ai kia nữa nỗi lòng xót xa
Mấy mươi năm chẳng dám qua
Th­ương như­ đứt ruột nói ra chạnh lòng
Nhớ khi ngồi gốc cây hồng
Biết đâu có lúc lạnh lùng gốc đa
Th­ường đêm thức dư­ới hiên nhà
Để khi gần sáng mơ xa gặp ng­ười.


CÂU THƠ LỤC BÁT TRỞ VỀ

Câu thơ lục bát đâu rồi
Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi tìm.
Tưởng rằng đáy bể mò kim
Ở ngay trước mắt còn tìm lạ chưa.
Câu ru thấm ướt đêm mưa
“Con cò lặn lội” còn chưa giấc tròn.
Tiếng ai tha thiết bồn chồn
Mấy mươi năm tưởng lối mòn đã quen...
Mong sao mưa tạnh trăng lên
Để câu lục bát trao duyên trở về.


CÓ EM CÓ TÔI

Có em và cũng có tôi
Em không đến hội, ai ngồi đợi em.
Tôi làm một chút sương đêm
Để hoa em mãi trinh nguyên giữa đời
Tôi làm tia nắng mặt trời
Để hoa em thắm nụ cười trên môi...
Tôi làm ra chính là tôi
Để em là chính em rồi gửi trao
Tôi làm tờ giấy hồng đào
Để em gói nụ hôn vào yêu thư­ơng
Tôi làm ánh bạc trong g­ương
Để em gửi cuộc đời th­ường vào trong.
Tôi làm một chút đàn ông
Để em là gái kẻo không có gì.

 VĨ THANH SAU TÁC PHẨM
Tìm hiểu thơ lục bát ra đời trong một hoàn cảnh rất giản dị, ấy là trong khi phong trào làm thơ trong địa phương ngày một nhiều thêm. Những tác giả làm thơ thành thạo khá đông tuy chưa là nhà thơ bao giờ. Nhưng cũng có không ít những người bước đầu là yêu thơ, đến với thơ, thưởng thức thơ và rồi dần dà cũng muốn làm thơ. Những bài thơ đầu tiên nhiều người thường chưa tự tin cho lắm, nhiều lần ngỏ ý xem hộ thơ để bổ khuyết cho. Mỗi lần được đọc những bài thơ như thế thường vui buồn lẫn lộn trong lòng. Cái vui thường nhiều hơn vì những bài thơ thật như câu nói thường ngày không trau truốt, ý lời thường giản dị đến mức cảm động cho dù đôi câu, đôi chữ còn sần, còn gượng, còn chưa đúng văn phạm, chưa đúng ngữ pháp, quên từ “L” sang “N”; viết hoa tuỳ tiện, chấm phảy, gạch nối bất kể chỗ nào, chưa nói đến sai vần, lạc điệu.
Điều này đâu có đáng trách vì những người làm thơ ngày là những thợ hồ, là những bà hàng xén, là những lão nông, đã bẩy tám chín mươi xuân, trong kê khai văn hoá đôi khi viết rõ rằng mới có lớp ba, lớp bốn, vả chăng non nửa thế kỷ đã qua rồi. Trả lời sao khi tất cả mọi chỗ đều cần góp ý, chỗ này còn sai, chỗ nọ còn chưa đúng vv...Thôi thì đành tìm lấy vài ba trang dòng trôi nổi ghép vào cho có một bài giúp những người bạn thơ đang tìm đến cùng thơ.
  Cũng tự xét rồi, mình chẳng nhà thơ, cũng chẳng là thầy, lại càng chưa làm thơ giỏi thế mà sao dám viết, chẳng sợ đúng sai. Không thiếu những lời đàm tiếu đó đây về điều này, tiếng nọ, không thiếu các ngài hình to bóng lớn bàn ra, tán vào với những nguyên tắc này, điều kiện kia cùng với tư cách này, phương diện nọ.
Thế rồi nghĩ lại chuyện đời rằng “một nắm khi đói, bằng một gói khi no”, lẽ nào khi giúp cho người đói cứ phải chờ có đồ ngon, đồ quý khi người ta đang lúc đói lòng. Chê ư! chưa đúng ư! Xin những ngài đủ tài, đủ phép, đủ nhân cách hãy viết đi, hãy dạy đi cho thiên hạ cậy nhờ. Người ta nói đứng ngoài cuộc khen chê thường dễ, nhưng bước chân vào cùng với phong trào thì mới thấy trăm điều nào có dễ đâu.
Chính vì điều này mà nung nấu quyết tâm góp nhặt cho thành tác phẩm, cho dù còn nhiều sai sót mọi bề. Cho dù chỉ giúp cho một đôi ba chục người thôi và có khi chỉ tồn tại vài ba mươi ngày, tháng thì cũng như ta thắp đóm soi vào đêm tối tìm được cây bút chì vừa mới rơi ra và thế là đã đủ làm vui vậy.





       [1] Tên các bài thơ của Hoa Cúc









20/12/2012

LỤC BÁT CUỐI NĂM


THƠ GIÀ

Giao thừa chép mấy vần thơ
Đêm xuân se lạnh tóc mờ khói sương
Nhớ xưa muôn vạn dặm đường
Rầu lòng thay những đêm trường vắng ai
Mưa dầm mưa mãi mưa hoài
Băn khoăn năm tháng nối dài xa xăm.
Ai kia thương rối ruột tằm
Một đời lận đận yên nằm nhả tơ
Bâng khuâng thương những ngày thơ
Một thân đơn chiếc chơ vơ chợ đời.
Nỗi niềm gửi đến bao người
Cũng trong lam lũ một thời như ai
Bến mê đau cả đời trai
Cuốn theo đời gái mưa dài, nắng qua…
Bão giông giăng dọc miền xa
Dấu chân cha, bước mòn ba chiến trường
Rưng rưng trong nắng hanh vàng
Áo nâu sồng mẹ vắt ngang cánh đồng.
Thương sao những đoạn đê vòng
Tiễn người ra trận mà lòng quặn đau
Và rồi dài mãi về sau
Chiến tranh xé nửa để đau một đời
Lệ thương tràn khắp cõi người
Gửi niềm tâm sự rối bời trong ta.
Giật mình nhớ thuở tuổi hoa
Nhớ từ dáng bạn, nhớ ra dáng thầy
Nôn nao nhớ đến những ngày
Sớm hôm tát nước mê say bên đình
Chiếc khăn kỷ niệm bạn tình
Bồi hồi kể chuyện ta mình còn son
Lòng già như héo như mòn
Rằng xa xôi quá, các con không về.
Bao năm chung đụng cận kề
Rằng bà ốm yếu tôi thề chẳng vui
Ngoảnh đi, ngoảnh lại ngậm ngùi
Anh em giờ đã hết rồi còn đâu.
Giờ đây đã bạc mái đầu
Vẫn như in lúc miếng trầu trao nhau
Chỉ cân chè với buồng cau
Mẹ cha vun vén đưa dâu về nhà
Nhẹ nhàng mình nắm tay ta
Nhớ đêm hợp cẩn đã xa một thời
Câu thơ tím cả khoảng trời
Không vần không điệu mà rơi... lệ nhoà
Giờ đây là tấm tình già
Nỗi niềm tâm sự gần xa giãi bày.
Trời cho ba sáu ngàn ngày
Một ngày thôi cũng chặt đầy niềm thơ.
Bâng khuâng hư ảo mộng mơ
Khói mênh mông khói, xanh mơ khắp nhà.
Nén hương, thưa với ông bà
Rằng con, rằng cháu đã già như ai
Tấc lòng đâu dám đơn sai
Gốc nguồn rày đã trong ngoài ấm êm
Giờ đây xin tỏ rõ thêm
Họ hàng nội ngoại, ngày đêm dốc lòng.
Niềm vui suốt cả năm ròng
Việc làng, việc xóm vẫn trong, vẫn đầy.
Mai sau những tháng, những ngày
Đôi ông bà mãi trong tay chẳng rời.
Gần xa xin gửi lời mời
Nghe dòng tâm sự cuộc đời trong say.
Thì thầm vui gió, vui mây
Chiều xuân đong mãi chưa đầy cho thơ.

THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG
Ai làm say đắm hồn ta
Để bâng khuâng những chiều xa đợi chờ
Lời xưa hò hẹn chưa mờ
Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi
Cho dù trăng đã khuyết rồi
Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho nhau.
Chẳng thà đắt lúa rẻ cau
Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…
Hôm nay khép áo lên chùa
Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ
Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ
Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến không.
Nhìn ra bốn phía mênh mông
Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.

TRĂNG XANH
Mai về nối lại lời yêu
Quên đi tất cả những chiều cách xa
Nắm trong tay của người ta
Đợi vầng trăng lại ló ra tỏ tình
Bâng khuâng sao những ảnh hình
Ngày xưa cứ bám theo mình mà đi
Hình như trăng của mọi khi
Vẫn xanh biếc dưới bờ mi thuở nào

LẠI MƠ
Đã mơ gom ánh trăng vàng
Gửi vào câu hát mơ màng bên sông
Đã mơ gom nắng tươi hồng
Để pha vào gió vẽ cùng thời gian
Ngờ đâu sau giấc mơ tan
Nhìn ra chỉ thấy muôn ngàn xa xăm
Tìm đâu ước hẹn trăm năm
Tròn đầy với những đêm rằm trăng treo
Ai làm xô dạt cánh bèo
Để đau mãi một mái chèo sang ngang.

KHÓI RƠM VÀNG
Chiều rồi gió lộng bờ đê
Khói rơm vàng thổi cháy khê cổng đình
Trời cao sao khéo vô tình
Lấy chảo mây úp ta mình vào trong
Nhìn xa chỉ thấy cong cong
Kiếm không ra những chấn song cửa gầy
Có bao nhiêu lớp mây dầy
Dấu chân trần thuở thơ ngây đã mờ
Tìm đâu ra lối bây giờ
Khói rơm vàng cứ lượn lờ quanh ta.

GỬI TÌNH CHO TRĂNG
Xa nhau suốt cả cuộc đời
Không hình, không tiếng, không lời nhắn nhe
Để tàn bao lớp hoa tre
Để khô bao lớp vàng hoe ruối vàng
Mười hai bến nước cho nàng
Mười hai cửa ải cho chàng mãi xa
Chẳng giận mình, chẳng giận ta
Thương sông, thương núi, chẳng hòa vào nhau
Đêm nay người ở nơi đâu
Nhìn lên trăng để khắc sâu chữ tình.

THĂM LẠI PHÁO ĐÀI 44
Lối xưa hoang vắng mất rồi
Một bờ công sự bồi hồi đợi ai
Cỏ cây vô ý mọc hoài
Che đi một thuở đỏ trời đạn bom
Che đi hết những chiều hôm
Khói theo hầm gạch gió nồm khẽ bay
Nối nguồn sông Mã về đây
Nước tuần hoàn lại tưới cây trên đồng
Hiểm nguy vẫn chẳng ngã lòng
Tuổi thanh xuân với tim hồng đẹp sao
Bỗng đâu lòng lại dạt dào
Đôi dòng mờ tỏ khắc vào tháng năm.

.NHỚ LỜI HEO MAY
Chỉ còn có gió heo may
Thổi vào góc bếp làm cay mắt già
Chiều nào một cháu một bà
Nửa niêu cơm độn với cà kho tương
Tưởng đâu đời lắm sắc hương
Các con quên cả góc giường chuối khô
Quên con đường nhỏ ngoại ô
Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn khênh
Một đời bà mãi lênh đênh
Nuốt vào tim những chông chênh ở đời
Mai sau con có nên người
Nhớ về quê để nghe lời heo may.

HUN KHÓI GIỮA RỪNG SÂU
Ai hun khói giữa rừng sâu
Túi than xuống chợ được đâu mấy hào
Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào
Cất vào rương để đi vào tuyết sương
Câu thơ dằng dặc bi thương
Hùng tâm tráng khí vô thường còn đây
Nghe đàn suối, uống rượu cây
Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi niềm
Bỏ đằng sau những tị hiềm
Để quay trở lại mà phiền lụy thân
Nỗi đau đâu chỉ một lần
Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng qua…
Oan khiên đâu dễ tìm ra
Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu
Ai hun khói giữa rừng sâu
Bữa cơm chay cũng chỉ đâu mấy hào.

ĐỐT LÁ THAY RƠM
Ngày xưa ai đã đốt rơm
Khói bay, bay mãi từng cơn lên trời
Bên tai có bấy nhiêu lời
Để cho cái kiến phải rời củ khoai
Ngoài kia ai đến cùng ai
Phải chăng vẫn chỉ là trai với cò
Mỏ dài, vỏ cứng chẳng lo
Lại đau cái nắng làm cho yếu mềm
Thì ra cái ác, ác thêm
Hùa nhau để mở ruột mềm trai ra
Bao giờ rụng hết lá đa
Để ta cầm chổi theo ra quét chùa
Gom bao lá rụng cuối mùa
Đốt lên để ngắm khói lùa thay rơm.

LỆ ĐÁ
Lại về thăm thánh Mị Châu
Nỗi đau hồn đá không đầu còn đây
Tưởng rằng gương hận đã đầy
Thân trai ngậm ngọc bấy chầy còn đau
Mai sau, dài những mai sau
Có còn ai đó phải lau lệ buồn

VỢ MỜI UỐNG RƯỢU
Em nào có nghiện rượu đâu
Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.
Có say thì đã say rồi
Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.
Theo từ mới nở hoa cau
Chẳng cần mặc cả trước sau thế nào.
Theo từ rời chỏm trái đào
Đến nay lấm tấm bước vào tuyết sương.
Tha lôi khắp các công trường
Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô
Giường ghép ván, gạo đựng xô
Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu
Mưa rơi chảy ướt trên đầu
Đành ngồi bó gối nhìn nhau mỉm cười.
Có say, lúc ấy say mười
Bữa nay chẳng biết uống rồi có say.
Rõ là những đắng cùng cay
Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.
Uống cùng em…một chén thôi
Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu
Nuốt vào hết mọi nỗi sầu
Để say như thuở ban đầu mới quen.

LẦN GẶP SAU CÙNG
Tôi cũng như em rời mảnh sân trường
Vào mặt trận chẳng cần gì mặc cả
Coi cái riêng tây của mình rất nhỏ
Nơi tuyến đầu lửa đỏ…đáng cần hơn.
Cũng như tôi em thường rất cô đơn
Thư nhà đợi mãi mà chưa đến
Bao câu chuyện giữa đêm tiền tuyến
Có vị ngọt ngào tình yêu đầu tiên.

Họ đùa nhau rằng sao có duyên
Áo quân phục cứng ơi là cứng
Đôi giầy vải bết bùn rõ chán
Vẫn hẹn hò gặp nhau hồn nhiên.
Mùa khô rồi đạn bom nhiều thêm
Chiến sĩ vào ra đi như mắc cửi
Mùi thuốc lá thường ngày khó ngửi
Vẫn cứ mong gặp nhau từng đêm…

Anh lặng yên giữa nơi đền thiêng
Cố nhớ lại những lời em nói
Quê xa lắm, chẳng thèm cho cưới
Khát anh mà, vẫn quen làm duyên.
Đã bao lần giữa nơi rừng đêm
Sao chi chít ánh ra từ đôi mắt
Vòng tay nhỏ xiết chặt niềm khao khát
Lại chia đường xa nhau dài thêm…

Rồi một ngày không hẹn mà nên
Những đồng đội đã đưa anh tới
Đường ra trận có trăm ngàn lối
Chẳng thể nào tìm ra được đâu.
Chiến tranh đã qua, đã qua thật lâu
Bao người đã trở về quê cả
Cung đường cũ lối vào rất nhỏ
Nắng mưa dần xóa sạch cả rồi.
Anh cố tìm nơi mình đã từng ngồi
Không thấy nữa, giữa nơi hoang vắng
Nén hương nhỏ thắp chiều hanh nắng
Lần sau cùng mình xa cách nhau.

KHÔNG ĐÁNG ĐỂ THÀNH THƠ
Khi ta làm thơ là lúc ta yêu
Bao tình ý trong ta nảy nở
Những xúc cảm thiêng liêng khẽ mở
Chợt thành thơ khi thơ nhất trong hồn.
Khi ta chưa yên, lòng vẫn bồn chồn
Tim đắng ngắt và đầy chai sạn
Thì muôn nhẽ có là vô hạn
Vẫn không thơ, không đáng để thành thơ

NHỚ NHỮNG MÙA TRĂNG
Mai về gặp lại trời yêu
Quên đi tất cả những chiều cách xa
Nắm trong tay của người ta
Mảnh khăn thêu với lá hoa tỏ tình
Bâng khuâng sao những ảnh hình
Cõi xưa cứ bám theo mình mà đi
Mảnh trăng non của mọi khi
Chia tay từ ấy một đi không về

02/12/2012

THƠ THÁNG MƯỜI HAI


LẠI VỀ KINH BẮC

Năm nay lại về Kinh Bắc
Hòa vào không khí chơi xuân
Thật may mỗi năm có tết
Để ta vui được một lần

Bao người thời trang Âu Á
Còn em vẫn áo tứ thân
Hài hoa, thắt lưng, khăn vấn
Chẳng cần đổi mốt cách tân.

Con đò cứ trôi chầm chậm
Câu hát cứ nối miên man
Khẩu trầu tra vôi hơi đậm
Sau lưng tiếng cười giòn tan.

Năm nay lại về Kinh Bắc
Nơi nào ghi dấu tuổi thơ
Mùa xuân cứ trôi, trôi mãi
Cuộc đời như thực, như mơ.



















30/10/2012

LẠI NHỚ NHÀ QUÊ

HOA CAU

Bảo rằng “sông rộng một gang”
Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi
Thế mà mấy chục năm trời
Vẫn không đến được với người tri âm.
Khi yêu người chỉ nói thầm
Lấy đâu báu vật để cầm làm tin
Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim
Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.
Đành chờ đợi để lần sau
Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở vàng.

HOA NGÔ

Đã lâu người mới quay về
Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu
Áo ai phơi tím ruộng mầu
Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông
Chói chang khắp hết cánh đồng
Con đò… đã chẳng còn trông thấy gì
Gậy tre cắm dọc đường đi
Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những lời
Thôi dành mượn ánh mắt cười
Gật đầu đáp lại với người thương yêu.
Bờ đê vàng nắng trong chiều
Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa đâu!
Hoa ngô xào xạc bên nhau
Rưng rưng hỏi lại… năm sau có về?


RAU KHÚC

Chẳng ai trồng khúc bao giờ
Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông
Nếp hương ai lựa trắng bong
Đậu xanh ai đãi vàng ong bên hè
Em cười, khẽ rụt tay về
Có là chi một chút nghề giản đơn…
Nửa chiều bãi đất trống trơn
Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài
Bồn chồn ngày ngắn, đêm dài
Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường vôi
Phố thay làng đã lâu rồi
Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng rao.

  THƠ 2025 (PHẦN II)   VIẾT CÂU CẢM THÁN Thêm một mùa xuân nữa lại về Càng buồn cho những kẻ xa quê Trên ban hương khói không ai thắ...